Việc sử dụng đất trên thực tế do các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thực hiện. Trong quá trình sử dụng sự biến đổi có thể xảy ra đối với chủ sử dụng đất, diện tích, loại hạng đất. Do vậy, đăng ký quyền sử dụng đất là một biện pháp của Nhà nước nhằm theo dõi tình hình sử dụng và biến động thường xuyên của nó. 

Các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 

Đối với các trường hợp được quy định ở Điều 99 Luật đất đai số 45/2013/QH13, các cơ quan công quyền không được phép đặt thêm thủ tục hành chính gây chậm trễ cũng như từ chối việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng. Như vậy, nếu người sử dụng đất chứng minh được quyền sử dụng đất của mình thông qua các loại giaays tờ nêu trên thì xác lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được cấp giấy theo thủ tục được quy đinhj tại Nghị định của Chính phủ số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thi hành Luật đất đai.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Điều 100 Luật Đất đai 20130 

Khi hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp và có các giấy tờ hợp lệ được quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Trường hợp người sử dụng đất có các giấy tờ hợp lệ được quy định tại khaonr 2 Điều 100 Luật đất đai 2013 nhưng giấy tờ đó không chính chủ mà mang tên người khác, giữa các bên mới có giấy tờ thể hiện việc giao dịch mà cho đến trước gày 01/7/2014 chưa thực hiện các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định, nay được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp.

Quy định này về cơ bản tương tự quy định tại Luật đất đai 1993, tuy nhiên Luật mới đã bỏ điều kiện không tranh chấp đối với trường hợp có giấy tờ, có tên trong sổ đăng ký, sổ địa chính: là sổ lập trước ngày 15/10/1993, việc thêm giấy tờ khác do Chính phủ quy định.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Điều 1010 Lụât đất đai năm 2013) 

Trường hợp hộ gia định, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật đất đai, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối tại vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội khó khăn, nay được uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp. 

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ được coi là hợp lệ quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 nhưng đất đã dược sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2014 nay được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là không có vi phạm pháp luật đất đai, đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. 

Xem thêm: Án lệ số 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ

Trên đây là bài Điều kiện công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Bạn đọc vui lòng liên hệ Công ty Luật Lawkey để được tư vấn chi tiết. Hotline 1900 25 25 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *